Brahma-Vihara Arama: Ngôi chùa "ít người biết" ở Bali

 

Người Việt Nam ở Hòa Lan ít biết về Indonesia, mặc dù quốc gia này trước thế chiến thứ 2 là thuộc địa của Hòa Lan, và cộng đồng người gốc Indo ở Hòa Lan là một cộng đồng lớn.

Indonesia là một quần đảo gồm trên dưới 15.000 đảo lớn nhỏ. Tùy theo cách đếm, con số không thống nhất. Có những đảo thực ra chỉ là một mỏm đá mấp mé mực nước biển, không có cư dân thường trực. Dân số hiện nay là khoảng 250 triệu tức gần gấp ba Việt Nam. Indonesia có GDP đứng hàng thứ 16 trên thế giới, nhưng vẫn là một quốc gia nghèo.đọc tiếp...

 

Cụ già tu mướn

Thiền sư Bạch Ẩn Huệ ở Nhật Bản có một tục gia đệ tử. Người đệ tử này thường đến than phiền rằng cha của anh ta, dù tuổi đã cao, vẫn cứ mải mê làm việc kiếm tiền chứ không chịu tu hành gì cả. Mỗi lần nhắc nhở thì ông cụ trả lời:

– Nếu chuyện tu hành mà làm ra tiền thì hãy nói với ta, bằng không thì đừng nói! đọc tiếp...

Những ngôi chùa nổi tiếng thế giới

Trúc Hà

Chùa Một Cột - Việt Nam

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột được hình thành do một giấc mộng của vua Lý Thái Tông (1028-1054). Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vua Lý Thái Tông nằm mộng thấy Phật Quan Thế Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài. Khi tỉnh dậy, vua nói lại với triều thần, sư Thiền Tuệ khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng Phật Quán Âm ở trên, đúng như hình ảnh đã thấy trong mộng. đọc tiếp...

Khía cạnh xã hội của chùa Vạn Hạnh

Quảng Phúc - Ngô Thụy Chương

Một người bạn trẻ Hoà Lan gửi thư đến chùa Vạn Hạnh với nội dung như sau: “...Tôi như con thuyền trôi nổi giữa đại dương đang tìm kiếm một bến bờ an toàn để cập. Quý vị có thể giúp tôi được không?...”

Anh bạn Hòa Lan 24 tuổi này kể rằng khi 12 tuổi, anh bị một căn bệnh đau đớn về tinh thần mà nguyên nhân không có lời giải thích. Anh cảm thấy cuộc sống vô vọng.. . đọc tiếp...

Hội Tết Chùa Vạn Hạnh

Quảng Phúc

 

 Ðối với người Việt Nam, Tết là ngày của hy vọng, là ngày của đoàn tụ, là ngày mọi người bằng mọi cách trở về dưới mái ấm gia đình. Ngày mà  con cháu quây quần bên ông bà, cha mẹ, anh em, để chúc trường  thọ, an vui, hòa thuận.

Hòa Lan vào mùa này chỉ thấy tuyết băng và giá lạnh. Không khí đón Tết Nguyên Ðán được khép kín trong phạm vi gia đình, chúng ta không hưởng được không khí Tết ngoài đường phố, trong các cửa hàng. Chúng ta âm thầm đón chào xuân mới.

đọc tiếp...

Nồi bánh chưng chùa Vạn Hạnh

 

Bánh chưng trên bàn Phật trong ngày Hội Tết Đinh Dậu 2017 (Hình: Quảng Pháp)

 Ngày cuối năm, những Phật tử và bà con đến chùa Vạn Hạnh để cùng tưởng nhớ đến tiền nhân trong Lễ Tổ Tiên và đón giao thừa, được thưởng thức hương vị miếng bánh chưng chay còn ấm. Đây là một món đặc biệt của chùa Vạn Hạnh Hòa Lan, và được nhiều lời khen ngợi. Tuy nhiên, ít ai biết rõ lai lịch những chiếc bánh chưng này.

đọc tiếp...

Hương Tết

Hà Bạch Trúc

 

  

Bé Thi mới 10 tuổi mà đã biết trằn trọc khó ngủ. Mỗi lần thức giấc, cô bé nằm yên nhìn lên nóc mùng và nghểnh tai nghe ngóng động tịnh dưới nhà, tự hỏi không biết còn bao lâu nữa trời mới sáng. Cho đến lúc mùi cà phê ngào ngạt lan tràn vào giấc mơ khiến cô bé giật mình tỉnh giấc.

 

Thường ngày mẹ phải gọi nhiều lần, có khi còn phải áp bàn tay mát lạnh lên trán xoa nhè nhẹ một lúc, cô bé mới dậy nổi. Thế mà hôm nay cô bé tự động ra khỏi giường và chân sáo nhẹ tênh chạy xuống nhà tìm mẹ. Mẹ đang ngồi uống cà phê với ba ở phòng khách.

Thi xà vào lòng mẹ nũng nịu:

-  “Mẹ ơi, mấy giờ mình đi chợ hả mẹ?”

Mẹ cười dịu dàng và âu yếm lùa bàn tay vào mái tóc bé, rồi nhẹ nhàng bảo:

-  “Khi nào con xong thì mình đi”.

Ôi, sao Thi thương quá hai bàn tay của mẹ. Hai bàn tay êm ái tuyệt vời của mẹ, lúc thì xoa lưng dỗ giấc ngủ cho bé, lúc thì xoa trán đánh thức bé dậy, lúc thì bím tóc để bé đi học mỗi sáng, rồi còn làm bao nhiêu món ngon cho bé ăn nữa.

-  “Con sắp xong rồi mẹ ơi, mình đi đi”.

Vừa nói Thi vừa chạy ào vô nhà tắm, đánh răng rửa mặt thay đồ, chớp nhoáng đã xong, rồi  tung tăng theo mẹ đi chợ.

 đọc tiếp...

Gieo Gió Gặp Bão

Hồi ấy, cách đây hơn 2500 năm, người ta tính trên đất Ấn Độ đã có đến 96 học thuyết và giáo phái. tôn giáo nào cũng tự hào lý thuyết mình là đúng, là hay rồi tìm mọi phương cách để bành trướng. Trong số có một phái tôn thờ qủy thần, thủ lãnh là một bà mập mạnh, có giọng nói lanh lảnh, lại thêm có tài hùng biện. Nhờ thế mà phái ấy làm chủ được một vùng khá lớn.

Hôm nọ, một tin rung động từ xa đưa đến: Thái tử Tất Đạt Đa đã chứng thành đạo quả ở gốc cây Bồ Đề, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngài đã bắt đầu đi truyền giáo. Người theo Ngài rất đông. Lý thuyết Ngài dạy là hễ gây nhân nào là hưởng quả ấy. Cuộc sống của mọi người đều do bàn tay của họ sáng tạo. Con người không thể là trò chơi của các đấng thần linh. Hay tin ấy, bà thủ lãnh rất đỗi lo sợ. Bà lo vì ảnh hưởng của đức Phật càng lan rộng tất đạo của bà sẽ hết người tôn thờ. Am đền của bà sè trở nên "hương tàn bàn lạnh". Bà sẽ hết đất để sinh nhai. Nhưng lo cũng không khỏi, cái gì tất sẽ đến, tín đồ của bà hướng về đức Phật mỗi ngày mỗi đông. Ăn ngủ không yên, bởi dòng suy tưởng chi phối. Bà mong có phương pháp thần hiểu để hạ uy tín đức Phật.

Đêm hôm ấy, trằn trọc mãi không ngủ, bà đánh thức các môn đồ dậy lo cho bà ăn thật sớm. Thấy nỗi thắc mắc và lo toan hiện rõ trên nét mặt của bà, các môn đồ hỏi lý do. Bà cho hay là sáng ngày bà sẽ đi sỉ nhục đức Phật. Bà khuyên môn đồ giữ vững đức tin. Bà hứa với họ rằng, bà sẽ cầu xin đấng thần minh ban phước cho bà triệt hạ uy tín đức Phật.

Cơm nước xong, không gian đang mù tỏa ban đêm, bà hăm hở lên đường trong niềm hy vọng. Vài giờ sau, mặt trời vừa xuất hiện, soi sáng trần gian bà đã đến nơi đức Phật thiền định, bà la rầy khiêu khích dùng lời thô tục mắng nhiếc đức Phật. Mặc cho bà quát tháo, đức Phật vẫn ngồi yên lặng. Thật là hai thức cực! Thấy Phật không trả lời, bà nghĩ là Ngài đã thua cuộc và chứng tỏ rằng Ngài quá ương hèn trước áp lực của người khác. Như thế, Ngài là người không đáng cho mọi người kính trọng và tôn thờ. Do đó bà càng làm già hơn nữa. Nhưng lúc mặt trời vừa đứng bóng, bà mệt lả, vì bụng đói, khát nước và rát cổ. Bà ngồi phịch xuống đất và suy gẫm. Sau cùng thua buồn thua kiện, bà đến hỏi đức Phật:

- Ông Phật kia, sao tôi la rầy ông từ sáng đến giờ mà ông không nói gì cả. Thường thường tôi mắng ai, tôi một thì họ mười. Trái lại tôi chưa gặp ai như ông, mặc cho người khác nguyền rủa.

Cơ duyên đã đến, đức Phật xuất định, dịu dàng cất tiếng:

- Ta xin hỏi ngươi một điều này: một hôm nọ, nhà ngươi có giỗ ngươi mang bánh cho hàng xóm, nhưng họ không nhận, thế thì bánh ấy về ai ?

- Nghe thiên hạ đồn, ông là bậc giác ngộ, trí tuệ tuyệt vời, song giờ đây nghe ông hỏi, tôi nghĩ buồn cười quá. Tôi mang cho hàng xóm, nhưng họ không nhận vậy thì tôi mang về. Tôi giữ lại cho gia đình tôi ăn chứ nó về ai nữa mà hỏi. Ông thật là điên rồ.

Vẫn bình tĩnh, dịu dàng, đức Phật lại nói:

- Ngươi mang bánh cho hàng xóm nhưng họ không lấy thì ngươi mang về, cũng như thế, từ sáng đến giờ ngươi biếu ta không sót một tiếng gì nhưng ta không lãnh, vậy những cái ấy tự trở về với ngươi tất cả. Điều ấy có khác gì kẻ cầm đưốc đi ngược gió, tất sẽ cháy tay, kẻ đứng ngược gió cát bụi tất sẽ lấm mình, hoặc kẻ ngửa mặt lên không trung mà nhổ nước miếng tất nước miếng đó sẽ rơi vào mặt.

Suy gẫm một hồi, bà ta xác nhận rằng, mình hại người, tội lỗi về sau phải chịu, đó là thứ vô hình mình không thể thấy. Sau phút suy gẫm, bà cảm thấy đức Phật là một bậc có sức mạnh vô song khôn hơn mọi người, bà hết sức khâm phục và trở nên hòa dịu. Bà đến qùy trước đức Phật cầu xin sám hối lỗi lầm, xin quy y làm môn đệ và nguyện sau khi trở về sẽ dẹp thần tượng, hướng dẫn môn đồ trở về con đường chân chánh.

Trên đường về, bà thủ lãnh của đạo qủy thần miên man suy nghiệm lời Phật dạy. Để dằn sự hung bạo quen thói của mình, đồng thời để nói lên ý nghĩa của lời Phật dạy, bà ta lặp đi lặp lại: "Gieo gió gặt bão. Gieo gió gặt bão".

 

Từ Bốn Thánh Ðịa Thiêng Liêng Phật Giáo Ðến

Vườn Tứ Ðộng Tâm Chùa Vạn Hạnh

 

Quảng Phúc

 

Ước mơ trân quý của người con Phật là một lần trong đời được đến chiêm bái bốn thánh địa thiêng liêng của Phật giáo. Ðược coi là thánh địa vì nơi đây ghi dấu bốn sự kiện trọng đại của cuộc đời và sự nghiệp hoằng pháp của Ðức Phật Thích Ca.

 

Bốn thánh địa đó là:

1. Lumbini (Vườn Lâm Tỳ Ni), nơi Đức Phật đản sanh

2. Bodhgaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng), nơi Đức Phật thành đạo

3. Sarnath (Vườn Lộc Uyển), nơi Đức Phật khai giảng giáo pháp

4. Kushinara (Câu Thi Na), nơi Đức Phật nhập niết-bàn

 đọc tiếp...

Gương Bố Thí

Ngày xưa có một vị Bồ tát, nhân thấy cuộc đời vô thường cho đến cả thân mạng và của cải cũng vậy. Nên Bồ tát phát tâm dõng mãnh đem tất cả sản nghiệp của mình bố thí.

Trong khi bố thí Bồ tát không phân biệt người oán kẻ thân, miễn thấy ai thiếu thốn khổ sở là Ngài đem lòng thương xót và tận tâm giúp đỡ. Cũng vì thế, nên lòng nhân từ của Ngài vang khắp mọi nơi, và ai nghe đến tên Ngài cũng đều cảm phục....đọc tiếp...

 

Câu chuyện giết gà

Quảng Phúc

 

“…Chiều ba mươi Tết, tôi xuống bếp giúp vợ tôi cắt tiết gà. Nàng cắt tiết, tôi chỉ phải giữ chân và cánh cho chắc, nhất là vào lúc gà rẫy chết. Ăn thịt gà thì cả nhà ai cũng thích ăn, nhưng cắt tiết thì ai cũng ngại....đọc tiếp...

 

Thơ Xuân

XUÂN VIỄN XỨ

Thêm một mùa Xuân chốn viễn phương

Nhớ về quê cũ trắng canh trường!

Tháp xưa chuông sớm luôn vang tiếng

Chùa cũ trầm khuya mãi ngát hương..đọc tiếp...

 

Mừng Xuân Di Lặc

Thích Nguyên Tạng

Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, mọi người dân Việt ở bất cứ nơi đâu trên địa cầu này cũng đều nô nức, hân hoan chào đón mùa xuân nhân loại, hay còn gọi là Tết Nguyên Đán. Nguyên là khởi đầu, Đán là buổi sáng ban mai. Tết Nguyên Đán là dịp lễ cung đón một ngày đầu năm mới, một niềm ước mơ mới, hy vọng mới với tất sự mới mẻ trong tâm hồn mình và thế giới bên ngoài. Xuân mới sẽ mang đến cho mọi người mọi nhà cùng muôn loài khác những gì tốt đẹp nhất cho cuộc sống.đọc tiếp...

 

Lời Ru Của Suối

Bản thân: một giòng suối/ Đầu gác lên non cao/ Chân thả xuống sông rộng/ Nước tràn ra biển khơi

Vũ trụ thật bao la/ Giải Ngân hà lấp lánh/ Làn mây du theo gió/ Ngược chiều vầng trăng trôi.

 

Tư duy là hữu ngã/ Trong cõi thế gian này/ Hiện thực hay vô hình/ Tồn tại hay tan biến

Âm vang nhịp tim đập/ Ngực thở hơi thì thào/ Tình cảm vấn vương hoài/ Yêu thương hận thù ghét.

 

Thể xác ta hữu hạn/ Tư tưởng không bến bờ/ Thân ta luôn trôi nổi/ Trên giòng đời mênh mông

Bập bềnh theo mệnh số/ Hay vững lái tay chèo/ Tuân lệnh từ khối óc/ Hay buông thả lang thang.

 

Nằm đây không gian tĩnh/ Tồn tại cõi riêng ta/ Vạn vật âm thầm động/ Tâm tư mình triền miên

Không tự kiểm soát được/ Phương hướng cuộc đời này/ Hãy hoà theo nhịp chuyển/ Của thiên hà vô biên.

 

Trầm tư và tưởng tượng/ Chắp cánh ta bay cao/ Đi cùng trời cuối đất/ Mất hút vào thinh không

Thân không còn hiện hữu/ Không bản ngã tư duy/ Không sinh cũng không diệt/ Tất cả đều hư vô !

 

ChinhNguyen/H.N.T.   2012

(Thể văn pha Tuỳ bút+Thơ Tự do nên được chủ ý trình bày với dấu gạch chéo / để gợi ý đọc như một bài ca nhịp 2 hoặc 3)

 

Như một giấc mơ

Hà Bạch Trúc

Hơn ba mươi năm đã trôi qua. Bao nhiêu biến đổi, bao nhiêu kỷ niệm. Tôi yêu mến xứ Hòa Lan này vì ở đây tôi đã tạo dựng mái ấm gia đình trong hạnh phúc và tự do thật sự. Tôi đã nhận nơi này là quê hương mới vì đất nước này đã cho tôi những gì tôi không tìm thấy nơi quê mẹ, những gì tôi đã phải vượt biển đi tìm: tự do và hạnh phúc. Ở đây, tự do có thật bởi sự thật được tự do*.

Tuy nhiên mỗi khi nhìn lại, tôi vẫn thấy hình ảnh mẹ tôi đứng đó, dáng thật nhỏ và lặng lẽ trong bóng đêm nhạt nhòa.... đọc tiếp...

 

Bóng Mẹ

 Trần Thái Vân

 

Trưa ngồi bên bếp lửa

Mẹ tráng bánh nuôi con

Chiếc bánh tráng rất tròn

Nồng nồng hương bột gạo

Chiều mẹ đi bán dạo

Cười, bán gió mua trăng

Con ngây thơ tin rằng

Đời đổi trăng thay gió

Ngày mưa giông đầu ngỏ

Mắt mẹ buồn thiu thiu

Bữa cơm chiều đìu hiu

Xa xa từng tiếng sóng

Mẹ một đời hoài vọng

Cậu tha hương trở về

Con nghe chuyện mãi mê

Nhớ làng xưa chưa biết

Mẹ ngâm thơ ly biệt

Con thả hồn theo trăng

Nằm trên võng ngủ thiếp

Mơ làm cánh chim bằng

Năm con lên mười sáu

Mẹ lâm bệnh ung thư

Buồn giăng như mây mù

Che mặt trời hạnh phúc

Năm sau lià cốt nhục

Con làm trẻ mồ côi

Phận người như củi mục

Trôi trên nhánh sông đời

Mẹ một đời tứ tán

Lià quê hương xóm làng

Nhớ không đủ thời gian

Gởi tình vào hoài niệm

Con một đời phiêu bạc

Đường về ở nơi đâu

Sáng mặt mày nhớn nhác

Nếp nhăn trán bắt đầu

Mẹ mất con không gặp

Nên giờ sợ đêm thâu

Sợ khi trời trở gió

Sợ mẹ vẫn còn đau...

 

Bóng ảo

[Những vần thơ chỉ là cảm nghĩ chân thành

của người chưa chuyên sâu về Phật-pháp]

 

Cõi trần gian luôn luôn mờ mờ biến ảo,

Kiếp con người sinh lão bệnh tử luân hồi.

Cuối đường ta đi là khoảng trống hư vô,

Không một dấu tích ngoài linh hồn hiện hữu.

 

Ta hiện hữu bằng linh hồn vĩnh cửu,

Qua hình hài thể xác cũa nhân thân.

Vũ trụ này: địa ngục hay Niết-bàn,

Ta chịu sống khổ đau hay sung sướng.

 

Cuộc sống trầm luân sướng vui buồn khổ,

Lẽ vô thường chi phối cả đời ta.

Tham sân si rồi cũng mất thôi mà !

Ao ước lắm chỉ thêm sầu tiếc nhớ.

 

Nhưng vẫn có một con đường duy nhất :

Hãy tu nhân tích đức giúp nhân quần,

Hay tu hành để giải thoát bản thân.

Chung tất cả là con đường Phật-pháp.

 

Phật-pháp nhiệm màu chứng lòng ta thành khẩn,

Chỉ dẫn cho ta đi đúng dấu chân Người,

Soi sáng cho ta khi lạc lối lầm đường,

Đến chân hạnh phúc ở trong tầm tay với.

 

ChinhNguyen/H.N.T.   Aug 4.2015

 

Tôi đã “giác ngộ” đạo Phật như thế nào?    

Nguyễn Sinh

Đức Phật luôn luôn nói lời chánh ngữ, nói lời chân thật. Đức Phật không bao giờ nói lời lừa mị, lời gian dối, lời hoang tưởng, lời không thể kiểm chứng và cũng không nói lời tiên tri phỏng đoán vu vơ, mâu thuẫn. Đức Phật không bao giờ tự phong mình là quan tòa để phán xử ai. Ngài chỉ nói về Nhân quả chứ không bao giờ đe dọa trừng phạt ai...

đọc tiếp...

Mừng chùa Vạn-Hạnh/Hoà-Lan

 

Phật tử Hoà-Lan mới khánh thành

Ngôi chùa Vạn-Hạnh đẹp như tranh.

Bao năm tích cực làm công quả

Đến lúc hân hoan hái quả lành.

Đất Phật thênh thang tìm giáo lý

Trần gian thoải mái bước tu hành.

Thành tâm khấn nguyện Người soi sáng

Ánh Đạo chan hoà khắp chúng-sanh.

 ChinhNguyen/H.N.T.  GA/USA, June 21.2015

Slideshow Chùa Vạn Hạnh Hòa Lan

Nguyện cầu

ChinhNguyen/H.N.T

 

         Tôi dón dén bước vào ngôi chính điện

         Phật-Tổ-ngự-toà-sen,rực rỡ ánh hào quang

         Trước lễ đài, đại sảnh rộng thênh thang

         Bên hai cánh thêm vài hàng ghế dựa.

đọc tiếp...

Ngôi Chùa trên quê hương mới

Quảng Phúc

Với niềm mong mỏi tìm tự do, người Việt chúng ta đã ngậm ngùi bỏ nước ra đi, để lại biết bao người thân và bạn hữu, bỏ lại sau lưng cả vùng trời kỷ niệm với lũy tre làng xanh ngát, với tiếng ru ầu ơ giữa buổi trưa hè hay tiếng chuông chùa ngân vang trong buổi hoàng hôn...

đọc tiếp...

Thăm Chùa mới vào ngày đầu năm Ất Mùi  28-02-2015

Bùi Văn Đỗ

Kiến trúc ngôi Chùa sao cho có nét vừa là ngôi Chùa Phật Giáo, vừa có nét văn hóa Việt Nam, thể hiện hài hòa hai đặc tính này đã nói lên trọn ý nghĩa văn hóa của người Việt Tỵ Nạn nơi đây...

đọc tiếp...

NGƯỜI ĐÀN BÀ ÔM BÓ HOA TRONG NGÀY TẾT

Song Thao

 Bà Nhân ngồi trong phòng khách dễ chừng cũng đã hơn một tiếng đồng hồ. Con nhỏ sao hôm nay tới chậm thế. Lại bận rộn tết nhất ở nhà chắc. Ờ, lẽ ra tuần trước nó phải nói với bà là hôm nay không đến chứ. Con nít gặp ngày tết mừng như lân gặp pháo ấy chứ. Thằng Thắng, thằng Thịnh hồi bằng tuổi con nhỏ này mỗi lần tết đến lăng xăng phải biết. Đòi đủ thứ: quần áo mới này, tiền lì xì này, tiền mua pháo này, dẫn đi chơi sở thú này, đi coi xiếc này...Chỉ thiếu điều đòi mang ông trăng xuống chơi thôi. Trẻ con ấy mà. Có bao giờ biết thế nào là đủ đâu.

đọc tiếp...

Mái ấm quê hương

Quảng Pháp & Quảng Phúc

 Quê tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm
Sương hôm gió sớm trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi
Mai này tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng bỏ gió, chao ôi bỏ chùa

đọc tiếp...

Sinh hoạt tôn giáo của người Việt tại Hòa Lan

Quảng Phúc

Trên bước đường tìm kiến tự do, người tỵ nạn Việt Nam đã bỏ lại quê nhà một vùng trời kỷ niệm, hành trang mang theo chỉ là hai bàn tay trắng nhưng lại đem cả được đức tin trong suốt cuộc hành trình. Ngay khi bước lên con thuyền vượt biên bé nhỏ và trong những giây phút nguy khốn nhất trên biển cả, biết bao người đã thầm niệm câu kinh, tay lần tràng hạt. Hơn 30 năm sống trên xứ người, biết bao biến đổi, biết bao thăng trầm, nhưng đức tin của người Việt vẫn luôn được vun bồi. ..

đọc tiếp...

Câu chuyện thuyền nhân

Tam Hợp

 Câu chuyện thuyền nhân là những câu chuyện đầy thương tâm, như của người phụ nữ ôm con thơ oằn oại dưới tay bọn hải tặc như loài dã thú, trong khi người chồng bị chém gục nằm bên vũng máu khi liều thân cứu vợ con. Những thảm kịch kinh hoàng trên biển cả khi con thuyền chết máy, cạn dầu, hay không còn một giọt nước uống, những vẫn cứ ròng rã trôi dạt cho đến khi mọi người lần lượt chết vì đói và khát.

đọc tiếp...

Thuyền Nhân: nhìn quá khứ, nghĩ tương lai

Ðắc Khanh

            Thời gian trôi thật nhanh, mới đó mà người Việt tỵ nan đã sống hơn 30 năm nơi xứ “Uất Kim Hương” này.                                                        
         30 năm, một chặng đường dài, khi nhìn lại quá khứ cũng như khi nghĩ đến tương lai.
         Ban chủ biên thân gửi đến độc giả cái nhìn của lớp người tỵ nạn Việt Nam về cuộc sống nơi xứ người......

         đọc tiếp...
  Thơ Xuân

Xuân đã đến chúng con đồng nguyện khấn
Cầu chư thiên ban hai chữ thuận hòa
Tâm chúng con đừng động cảnh phồn hoa
Ðể mãi mãi là người tu chân chính
...đọc tiếp...

KỶ NIỆM NHỮNG NGÀY GIỖ

 Hà Bạch Trúc

(để tưởng nhớ cha mẹ mỗi dịp Tết về)
 

 

 

 

 

Những kỷ niệm đầu tiên của tôi hầu như đều gắn liền với những ngày giỗ. Thật vậy, ngược dòng ký ức trở về dĩ vãng, hình ảnh xa nhất mà tôi nhìn thấy chính là hình ảnh của gia đình tôi trên đường về quê để dự đám giỗ của ông nội tôi. Đó là những hình ảnh đẹp nhất, những kỷ niệm mang đầy mùi vị hạnh phúc và màu sắc của tình thương gia tộc. Mặc dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng trong ký ức tôi vẫn còn in đậm nét những hình ảnh êm đềm và ấm cúng đó....

đọc tiếp...

Chuyện Hai Người Quét Rác

Đào Văn Bình kể

 

Vào sáng Chủ  Nhật, có thể là do ngày nghỉ rảnh rỗi, một người đàn ông trung niên lúi húi quét dọn trước cửa nhà. Ông cầm chiếc chổi và đồ hốt rác quét sạch vỉa hè rồi quét dọc theo lề đường, cẩn thận gom tất cả đám cát, bao ny-lông, mẩu thuốc lá, ly giấy, lá khô và đủ thứ rác rưởi của xã hội văn minh vào thùng, đậy nắp cận thận, đặt ngay ngắn xuống lòng đường, để ngày mai xe rác của thành phố lấy đi. Hình như ông là người duy nhất ở khu phố này cầm chổi quét lòng đường và vỉa hè...

đọc tiếp...

Về giữa vầng trăng

 Mây Lang Thang

mùa Vu Lan 2013

 

Trong nhà tôi có một cái tủ nhỏ.  Trong tủ đó chỉ toàn đồ đạc của tôi, những món đồ lỉnh kỉnh thực ra chỉ có giá trị đối với riêng tôi. Có những món tôi giữ lâu lắm rồi, chẳng biết để làm gì, nhưng bỏ đi không được. Như cái bóp nhỏ sờn mép cũ mèm theo tôi từ ngày vượt biên, như cái vòng “mọi” đeo tay bằng đồng cũ xì ai đó tặng, như cái lược bằng sừng đã gãy gần hết răng, như tấm thiệp xuân nhỏ xiú của đứa bạn thân hồi còn trung học, và còn nhiều nữa. Tất cả những món đồ đó, lâu lâu tôi lại lấy ra xem xét, sờ mó ngắm nghiá một lúc rồi lại cất vô chỗ cũ.

 Nhưng trong tủ đó có một món đồ mà đã hơn mười năm rồi, tôi chưa lần nào dám đụng tới...

đọc tiếp...

 

Thông điệp của tình thương

 

 Hạnh phúc thay cho chúng ta từ khi mở mắt chào đời đã được nâng niu ôm ấp trong tình thương của Mẹ. Tình thương ấy bao la như biển cả, hiền hòa như dòng sông và toả sáng như vầng trăng tròn.

Chúng ta thật sự cảm thấy an toàn trong những giây phút sống bên Mẹ vì ta biết rằng Mẹ luôn luôn bảo vệ, che chở ta khi ta cần đến. Những lúc ta gặp khốn khó Mẹ lại là ánh đưốc soi đường hướng dẫn ta đến những quyết định chính xác. Mẹ lo lắng cho ta từ giấc ngủ đến miếng ăn. Mẹ quả là một kho tàng tình yêu tuyệt diệu, một nguồn vui vô tận đã nuôi dưỡng cho ta nên người. Tình thương ấy không bút nào tả hết.


Nuôi con chẳng quãn chi thân

chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn

đọc tiếp...

Ngày giỗ

 

Phan Lạc Phúc

(Trích từ bút ký “Bạn Bè Gần Xa”)

 

                                                                               Sydney ngày...tháng…năm…

Vũ Ðức Vinh thân,

Hôm nay viết thư cho bạn cũng là một ngày rất đáng nhớ của tôi. Ngày 20 tháng 10 âm lịch. Bà nó nhà tôi (bây giờ lên chức bà rồi không còn là mẹ cháu như trước nữa) đang thổi xôi, nấu chè. Chiều hôm nay bà ấy cũng làm thêm mấy món chay nữa…Hôm nay là ngày giỗ hết một ông bạn tù già của tôi. Ông Thượng tọa nguyên Giám đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo Thích Thanh Long...

đọc tiếp...

Bà già cúng đèn

Một thời Ðức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Ðà Quật, lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh Ðúc Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung. Sau khi thọ trai, Ðức Phật trở về tịnh xá Kỳ Hoàn. Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?

Kỳ Bà nói: Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật.

Vua liền sai chở một trăm thùng dầu về tịnh xá Kỳ Hoàn.

Có một bà già rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Ðức Phật mà không có tiền. Bà già thấy vua A Xà Thế làm công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích. Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu. Chủ hàng hỏi: Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu? Bà già đáp rằng: Tôi nghe ở đời gặp Ðức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh vào đời Phật mà chưa có dịp cúng đường. Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau.

đọc tiếp...

 Thiên đường địa ngục

Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi:
- Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không?
- Thế ngài là ai?
- Tôi là tướng quân.
Bất ngờ, thiền sư cười lớn:
- A ha! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy, trông ông giống một anh hàng thịt.
Tướng quân nổi giận, rút gươm:
- Tao băm xác mi ra!!!
Thiền sư vẫn điềm tĩnh:
- Này là mở cửa địa ngục.
Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy:
- Xin... xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.
Thiền sư Ekaku mỉm cười:
- Này là mở cửa thiên đường.

Lời bình:
Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và ngay bây giờ!
Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào.

  đọc tiếp...

 

 

 LỄ VU LAN

 

Hôm nay, rằm tháng bảy, chúng ta tụng Kinh Vu-Lan, nhờ đó chúng ta biết nguồn gốc lễ Vu-Lan là do chuyện ngài Mục-Liên cứu mẹ. Ngài Mục-Liên là một đại đệ tử của đức Phật, là bậc thần thông đệ nhất. Ngài thấy mẹ bị đọa thành quỉ đói, khổ sở vô cùng, Ngài muốn cứu mẹ mà không nổi nên về cầu cứu đức Phật. Đức Phật dạy phải nhờ sức chú nguyện của chư tăng, nhân ngày tán hạ tức là ngày rằm tháng bảy, thì mới đủ thần lực. Do đó, mẹ ngài được giải thoát. Phật dạy thêm : mỗi năm, đến ngày rằm tháng bảy, hãy kính thỉnh chư tăng lập đàn để cứu khổ cho tổ tiên cha mẹ bảy đời.

đọc tiếp...

Ngày Tết của Hạc

Thiên Hương

Hạc đi dọc theo con đường nhỏ, mặt trời đang xuống chầm chậm, cái nắng gắt gay của mùa hạ chỉ còn lại những oi nồng khó chịu.  Cơn mệt từ đâu ập đến, Hạc chợt muốn ngồi bệt xuống lề đường, gục đầu vào hai cánh tay chìm thẳng vào giấc ngủ.  Hai chân rời rã, cổ họng khát khô, cái mệt, cái buồn đổ ập lên cô, con đường thật vắng, cái nắng quái buổi chiều thật buồn, vậy mà trời đang vào Tết đó, cái Tết đang ở đâu khi cái tôi đang rã rời trong một khí hậu kỳ quặc ở đây.  

Cánh cổng gỗ thô sơ trước một căn nhà nhỏ đã hiện ra trước mắt, Hạc bước vào, đi dưới rặng cây leo xanh loáng thoáng những bông hoa tím, hồn chợt nhẹ xuống, thân chợt đỡ mệt hẳn đi khi những hương hoa nhè nhẹ trong khu vườn nhỏ vờn quanh cô.   Bước lên thềm cửa, Hạc đẩy nhẹ cánh cửa gỗ, mùi nhang thơm ngát tỏa ra từ những bát nhang trên bàn thờ Phật, Hạc quỳ xuống, chắp tay ngước mặt nhìn lên khuôn mặt nhẹ nhàng thanh thoát của bức tượng Phật Quan Âm, cô rán nén những tiếng nấc nghẹn trong lồng ngực, niệm Phật nho nhỏ, lúc đầu những tiếng niệm còn đứt quãng, xen lẫn tiếng nấc, dần dần đôi mắt cô cũng ráo khô, tiếng niệm Phật cũng trôi chảy dễ dàng hơn.  Ðến lúc hồn lắng hẳn xuống, cô gục mặt vào bàn tay, quên, quên hết, gắng không nghĩ, không nhìn một vật gì, để mặc mùi khói nhang, mùi hoa quấn quít quanh mình, và để quên mình đang hiện hữu.

Một bàn tay đặt nhẹ lên vai, Hạc ngửng mặt lên nhìn.  Chị Diệu đang nhìn cô thật hiền từ, dịu dàng nói:  "Vào đây uống miếng nước trà cúc đi".  Hạc đứng dậy, đi theo chị vào nhà sau.  Căn nhà không rộng nhưng rất sạch sẽ và giản dị, chị Diệu đưa Hạc ly trà nóng, mùi hoa cúc thơm ngát tỏa lên, màu nước xanh trong.  Hạc uống cạn chén, chị Diệu nhìn Hạc cười:  "Hết mệt chưa Hạc?"  Ðó là câu chị vẫn hỏi mỗi khi Hạc có chuyện buồn đến đây.   Diệu là chị ruột Hạc, sau khi cha mẹ mất, Hạc lập gia đình, chị bỏ việc làm, mua nhà ở riêng, xuống tóc, mặc áo nâu sòng, sống như nữ tu.  Ðã trên năm mươi nhưng nhìn chị chỉ ngoài ba mươi, hai con mắt đen lánh, lớp da mặt hồng mịn trên ngấn cổ trắng trong như sữa.  Chỉ có bàn tay là nói lên lứa tuổi của chị, đôi tay làm lụng thật vất vả, không từ chuyện gì nặng nhọc.  Hạc bật nói:  "Tối nay em ngủ lại đây được không?"  Chị Diệu lại cười thật nhẹ nhàng:  "Vào đây ăn cơm với chị".   Tính chị là như thế, không bao giờ hỏi tại sao Hạc lại đến, tại sao lại đòi ở lại.  Cái phong thái nhẹ nhàng, phiêu diêu của chị làm tâm hồn Hạc nhẹ hẳn đi.   Ăn xong bữa cơm, Hạc phụ rửa chén với chị.  Tự dưng cô buộc miệng:  "Sắp Tết rồi, em nhớ những ngày Tết hồi xưa ở nhà quá".  Nứơc mắt cô lại tự nhiên chảy ra, chị Diệu khẽ cười:  "Ừ, những ngày ấy thì vui, nhưng nhớ đến thì em lại khóc".  Hai chị em ra ngồi ở cửa, mặt trời chưa xuống hẳn, trời mùa hè nên còn sáng lắm.   Hạc vẫn còn thổn thức, chị Diệu lại cười: 

-    Em khóc rồi ngày đó nó có trở lại với em không?

-         Nhưng mà khóc thì nó vơi buồn chứ chị?

-         Em tiếc gì nào?

-         Em tiếc những ngày cả nhà còn ở chung với nhau, vui thì thôi.

Chị vẫn cười thật nhẹ nhàng:

-         Rồi thì vì tiếc những ngày đó, nên em thất thểu bỏ chồng bỏ con, em lại đây để ngồi khóc sao?  Rồi mai mốt em sẽ lại khóc vì tiếc những ngày còn ở chung với chồng con, lại thèm những lúc hai chị em ngồi cạnh nhau, như thế thì em khóc suốt đời sao?

-         Ðâu có, chị biết tính chồng em mà, anh ấy khó quá, động tí thì hét lên, em bực lắm.

-         Nhưng mà cậu ấy cục tính thế thôi, chứ tính cậu ấy tốt mà.

-         Thì biết là tốt, nhưng mà lười với cộc quá chị ơi.  Chị xem Tết đến nơi, ở đây ai chẳng nhớ nhà, thế mà chả thông cảm với vợ thì thôi, đi làm về chả phụ gì em cả, chỉ cắm đầu vào đọc báo, làm sao em không tủi thân được.  Vậy mà em mới nói anh ấy bỏ tờ báo phụ em một chút là hét lên rồi.  Em bỏ em đi để xem mấy bố con làm sao cho biết.  Nghĩ bố hồi xưa hiền mà chiều mẹ ghê đi.

-         Mỗi người mỗi tính chứ, nói sao được.  Nhưng mà em phải làm sao chứ, cứ giận rồi bỏ đi thế này thì thằng cu Thảo, cái bé Mai nó cũng buồn, em cũng buồn mà chồng em cũng buồn.

-         Biết thế thì đừng lấy chồng ở như chị mà khỏe.

-         Nhưng mà em lỡ lấy rồi, đâu có bỏ hết được. 

-         Chị cho em ở đây với chị, em không về nhà đâu, em mệt mỏi lắm rồi.  Ngày nào đi làm về đã mệt, lại ở nhà vừa mệt vừa không vui em chịu không nổi.

Chị Diệu nghiêm trang nhìn Hạc:

-         Nếu em nghĩ em ở đây em cảm thấy vui thì em cứ ở lại.  Nhưng chị nghĩ em nên về thì hơn, tại em sẽ nhớ thằng cu Thảo với bé Mai, rồi em lại cắn rứt, rồi lại ngồi khóc nữa.  Ðã đến lúc em phải sửa lại cách suy nghĩ  và lối sống của mình.  Cái gì sửa được thì rán mà sửa, cái gì không sửa được thì phải chấp nhận thôi.  Ăn chung cái tâm mình thanh tịnh, cái tâm mình vui mới được, chứ lúc nào cũng cứ ngồi nhớ tiếc những cái đã qua, những cái không có thì làm sao vui được.  Em đã ở lại đây mấy lần rồi, mấy lần trước em ở lại em có cảm thấy vui không hay cứ thở dài rồi khóc tấm ta tấm tức?

Không đợi Hạc trả lời, chị đứng lên, nhẹ nhàng ra bàn thờ thắp nhang niệm Phật, Hạc nhìn ra sân, nắng đã gần tắt hết, cái vẻ hiu hắt của buổi chiều lúc trời sắp tối làm lòng nàng nao nao khó tả.  Những cây hoa leo hai bên bờ rào đã bắt đầu tỏa hương ngào ngạt.  Trong vườn những đóa hoa vẫn rực rỡ dù trời đã bắt đầu tối.  Hạc nhìn vào gian thờ Phật, chị Diệu vẫn đứng chắp tay, khuôn mặt nhẹ nhàng thanh thản của chị ngước lên, dịu dàng, an lành và thật thanh khiết.  Hạc thấy mình thật mong manh, cô khẽ rùng mình, tự dưng cô thấy nhớ con ghê gớm, tự dưng cô thấy mình quá đáng khi đã giận dỗi bỏ ra đi, tự dưng cô thấy ngượng với những nông nỗi của mình.... Nếu em nghĩ em ở đây em cảm thấy vui thì em cứ ở lại,  không, có ở lại cô cũng không thể vui được.  Cái gì sửa được thì rán mà sửa, cái gì không sửa được thì phải chấp nhận thôi.  Ăn chung cái tâm mình thanh tịnh, cái tâm mình vui mới được, chứ lúc nào cũng cứ ngồi nhớ tiếc những cái đã qua, những cái không có thì làm sao vui được.   Cô đã không sống được nhẹ nhàng như chị, nhưng cô phải cố thôi.  Chị Diệu đã biết mình muốn gì, đã từ bỏ việc làm, từ bỏ đời sống nhộn nhịp, lui về ở đây, tại chị muốn như vậy và tìm thấy niềm vui ở đây.  Sống khổ hạnh, làm việc cực khổ nhưng lúc nào cũng thật thanh thản, nụ cười lúc nào cũng sáng trong.  Còn cô, cô biết mình không bao giờ có thể tìm được niềm vui trong một không khí lặng lẽ như vậy, cô đã có một mái gia đình, cô đã có những nguồn yêu thương, nhưng cô vẫn nuối tiếc những hình ảnh quá khứ, vẫn đi tìm hoài những niềm vui đã mất mà buông trôi cái niềm vui và hạnh phúc hiện tạiRồi mai mốt em sẽ lại khóc vì tiếc những ngày còn ở chung với chồng con, lại thèm những lúc hai chị em ngồi cạnh nhau, như thế thì em khóc suốt đời sao.   Chị Diệu nói đúng, những lần trước cô ở lại để rồi lại tự trách cứ mình, lại vật vã với những giọt nứơc mắt.  Trong bức tranh tối tranh sáng, giữa khung cảnh thật bình yên của ngôi nhà nhỏ, giữa mùi nhang thơm toả lẫn với hương thơm của hoa cỏ và sương đêm, Hạc như vừa tỉnh giấc, cô thấy cô phải trở về, trở về cái gia đình xinh xắn của cô, rán vun xới những ngọt ngào để nuôi nấng những kỷ niệm đẹp cho con cái, cuộc sống dài bao nhiêu mà cứ làm khổ lẫn nhau.

Tiếng xe hơi đỗ ở cổng làm Hạc nhìn ra.  Cu Thảo, bé Mai và Hoàng đi vào cửa, miệng cu Thảo bô bô:  "Mẹ ơi, mẹ về nhà đi, bố cho tụi con ăn cơm rồi.  Bố nói mẹ về ăn thử canh bố nấu coi ngon không".

Hạc ngượng ngùng nhìn chồng, chị Diệu bước ra, vẫn nhẹ nhàng chị nói:  "Hai cô chú đưa các cháu về đi, chiều 30 qua đây cúng Giao thừa nhé".

Hai vợ chồng chào chị, trên xe cu Thảo và bé Mai tranh nhau kể đủ thứ chuyện.  Lúc về đến nhà, Hạc ngỡ ngàng nhìn hai chậu quất và hai chậu vạn thọ vàng rực trên hiên.   Hoàng nhìn vợ cười:  "Thấy giống Tết ở Việt nam không em?"   Hạc rưng rưng nước mắt, nhìn chồng, nhìn con, nhìn mấy chậu cây.   Mùa xuân đang ở đây, những hình ảnh đẹp của quá khứ chỉ là quá khứ, cái quá khứ đã qua, chỉ có cái hiện tại ở đây, nó đang ở trong tay cô, cô phải giữ lấy nó, cô phải bảo vệ nó, cô phải tìm lấy những niềm vui trong những cái gì cô đang có và nhất là cần có một cái tâm thật thanh tịnh phải không chị Diệu.  Hạc vòng tay ôm lấy hai con, Hoàng đặt nhẹ bàn tay lên vai cô, cô thấy lòng ấm hẳn.... Cám ơn chị Diệu, cám ơn ngày Tết đã đem mùa xuân đến đây...

 

 Những hạt cơm của Phật

Cứ đúng mười hai giờ trưa chú Tâm Mãn, trịnh trọng trong chiếc áo năm thân màu lam, mang bình bát đựng cơm cúng Phật đặt lên bàn giữa của Tổ đường và nhắc tôi một câu:

- Đến giờ cúng ngọ rồi, thưa chú.

Nói xong chú mỉm cười nhìn tôi rồi lui xuống nhà dưới để lo buổi ngọ thực cho đại chúng. Tôi cũng mỉm cười hoan hỷ lại với chú và buông bút lông, xếp chồng kinh sách lại chỗ cũ để sửa soạn đi cúng dường.

Ở chùa, phận sự của tôi trong buổi trưa là dâng cơm cúng Phật. Chú Tâm Mãn thì lo phụ giúp dưới nhà trù và sau khi dọn trai phạn, chờ cúng Phật xong thì đánh ba tiếng bản hiệu lệnh để báo giờ ngọ thực.

Hôm nay chú Tâm Mãn mang bình bát lên với một nét mặt trầm tư. Nụ cười mọi hôm không còn nữa. Tôi đỡ lấy bình bát trên tay chú, nói lời cảm ơn, và nhìn chú trở lui xuống nhà dưới. Chúng tôi trang nghiêm và buồn bã hơn, vì một cái tang nhỏ đã xảy ra cho chúng tôi từ ngày hôm qua.

Trước đây nửa tháng, một hôm sau khi cúng Phật xong, tôi đi tắt những cây đèn nến trong chùa, Khi đến gần bàn Phật để tắt ngọn bạch lạp cắm trên cặp chân đèn đồng cao, tôi thấy từ trong bình bát nhảy ra một chú thằn lằn, miệng tha mấy hạt cơm. Đôi mắt sáng như hai chấm thủy tinh, nhìn tôi như hoảng sợ. Tôi không xua đuổi, nhưng chú thằn lằn cũng chạy mất về phía sau tượng Phật.

Ngỡ là chỉ một lần thôi, nhưng đến hôm sau, khi tắt đèn, tôi cũng lại thấy chú thằn lằn từ trong bình bát phóc ra, Cũng hai con mắt sáng hai châm thủy tinh nhìn tôi kinh hoàng, cũng cái miệng nhỏ tha theo vài hạt cơm trắng muốt.

Đến hôm sau nữa, tôi để ý rình. Mang theo bình bát đặt lên bàn Phật, tôi chưa mở nắp vội. Tôi thắp nến, thắp hương, kính cẩn lạy Phật như thường lệ, thỉnh ba tiếng chuông rồi mới mở nắp bình bát. Chưa thấy tăm dạng chú đâu cả. Tôi nhẹ nhàng khai chuông mõ, và xướng bài cúng hương, rồi tụng chú Đại bi, nhưng kia, lấp ló phía sau đỉnh trầm, xuất hiện hai chấm sáng như thủy tinh. Tôi bình tĩnh tụng tiếp chú Đại bi và làm như không hay biết gì cà. Chú thằn lằn tiến tới, tiến tới dần. Chiếc đầu nhỏ bé đã ngóc lên miệng bình bát. Phút chốc, chú đã nhảy vào nằm gọn trong bình bát.

Hôm ấy tôi đọc bài Cúng dường không được nhất tâm chút nào. Nghĩ đến cơm dâng cúng Phật đang bị một con thằn lằn vọc phá, tôi tưởng như mình đã mang tội bất kính đối với Tam Bảo. Tôi thấy giận cái chú thằn lằn quái nghịch kia, giận vì nó đã làm cho tôi rối loạn vì một việc không đâu. Miệng đọc bài Cúng dường mà tâm cứ xao động; có lúc tôi định đứng dậy đuổi quách con thằn lằn kia đi, nhưng hình như có một thế lực nào bắt tôi quỳ tụng cho hết bài Cúng dường và Hồi hướng.

Hôm sau tôi quyết không mở nắp bình bát nữa. Sau khi thắp đèn, đốt hương, tôi quỳ xuống, khai chuông mõ và cúng dường như thường lệ. Vẫn đôi chấm thủy tinh xuất hiện sau đỉnh trầm, vẫn chú thằn lằn của mọi hôm bò dần đến bình bát, nhưng đôi mắt kia đã trông thấy chiếc bình bát đậy nắp, ngơ ngác nhìn ngược xuôi. Cuối cùng chú thằn lằn trở về lối cũ phía sau đỉnh trầm.

Trong sát na thứ nhất, tôi thấy sung sướng vì đã trả được cái thù hôm qua, nhưng qua sát na thứ hai, tâm hồn tôi bỗng nhiên xao xuyến bâng khuâng, hối hận. Có một cái gì hình như sự tàn nhẫn, nhỏ nhen, thấp kém, đang làm cho lòng tôi vẩn đục. Tôi khổ tâm quá. Tôi không dám nhìn đức Phật khi tôi mang bình bát đi ra.

Trưa hôm ấy, tôi cáo mệt, không xuống thọ trai. Độ một giờ trưa, chú Tâm Mãn lên thăm:

- Chú mệt nhiều không? Em nấu cháo cho chú xơi nhé.

Tôi kéo chú Tâm Mãn ngồi xuống bên đôn và nhìn chú, tôi hỏi:

- Này tôi đố chú nhé: hôm nào mình cũng dâng cơm cúng Phật, thế Phật có thọ hưởng không?

- Đã gọi là “hưởng” thì không phải “ăn”.

- À thì ra thế, nhưng này chú Mãn ạ ...

- Chú nói gì cứ nói, em xin nghe.

- Tôi tưởng Phật không “ăn” mà cũng không “hưởng”.

- Thì em cũng nghĩ như chú đấy. Bởi vì có một hôm đem bình bát để xới cơm cúng Phật, em sực nghĩ rằng chúng ta cúng Phật chẳng phải là cúng cơm cho Phật mà cúng tấm lòng thành của chúng ta cho Phật mà thôi.

Tôi nắm chặt tay chú Mãn:

- Phải, chú nói đúng lắm. Mỗi ngày đều tưởng nhớ Phật, xem như đức Phật còn tại thế nên chúng ta mới cúng dường. Sự cúng dường cốt ở trong tâm mà thôi, vì trong kinh có dạy “cúng Phật thì công đức vô lượng”.

- Thôi để bây giờ em đố lại chú nhé: tại sao trong kinh lại có câu “cúng dường chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”? Nhưng thôi em đùa đấy, chỉ là một câu kinh em không hiểu đem ra hỏi chú đấy chứ không dám đố chú đâu. 

Tôi lặng yên, không dám trả lời. Câu hỏi của người em đồng sư làm cho tôi choáng váng. Vấn đề giản dị như thế mà tôi đã không giải quyết được một cách dễ dàng. Bản nguyện của Đức Phật là cứu khổ ban vui cho mọi loài chúng sinh. Làm cho chúng sinh bớt đau khổ tức là làm vui lòng chư Phật. Tại sao tôi lại đậy nắp bình bát không cho con thằn lằn lấy bớt vài hạt cơm để nuôi thân?

- Kìa, sao chú không trả lời em? Chú Tâm Mãn nhắc. Tôi cười:

- Nghĩa là cứ mở nắp cho thằn lằn tự do vào chứ gì.

Thấy bộ tịch ngơ ngác không hiểu ất giáp gì của chú Mãn, tôi bật cười và kể lại cả câu chuyện cho chú nghe. Tôi cũng không quên cám ơn chú đã nhắc cho tôi một lối giải quyết hợp lý. Nét mặt chú tươi lên; chú nói:

- Nếu thế tại sao mỗi khi cúng Phật, ta không đem theo ít hạt cơm để dưới chân bình bát? Chú thằn lằn của sư huynh sẽ bằng lòng với những hạt cơm đó mà không quấy phá đến cơm cúng Phật nữa.

Thật là thần diệu. Chúng tôi thích ý nắm tay nhau, nhưng không dám cười vang, sợ gây nên tiếng ồn trong  các phương trượng mà đại chúng đang nghỉ ngơi.

Hôm qua, sau giờ ngọ, tôi nắm tay chú Mãn, báo tin cho chú biết con thằn lằn của chúng tôi đã chết.

- Tôi đang đốt trầm thì nghe một tiếng “chạch” trên nền đá. Đến nơi đã thấy nó chết rồi chú ạ.

- Nhưng chắc đâu đó là con thằn lằn của chúng ta độ nọ?

- Sao lại không chắc hả chú? Cho đến hôm qua, nghĩa là đã mươi hôm nay, hôm nào nó cũng tha cơm cả. Thế mà hôm nay, mấy hạt cơm tôi đặt dưới chân bình bát vẫn còn nguyên vẹn ...

Chú tâm Mãn an ủi tôi:

- Thôi chú ạ, em chắc rằng một khi con thằn lằn đã biết ăn cơm, nó sẽ không ăn kiến ăn mối. Nó đã không gây tội ác, nó được ăn cơm Phật thì chắc nó cũng được vãng sinh ... Chúng ta cầu nguyện cho nó.

Tôi nghĩ đến một kiếp sống chúng sinh. Một chút sống nhỏ bé và bèo bọt nổi lên trên biển hiện tượng, rồi chìm lặng trong quên lãng nghìn đời.

Tâm trí chìm đắm trong những suy tưởng siêu hình, tôi chậm rãi đáp lời chú Tâm Mãn:

- Phải, chúng ta nên cầu nguyện cho nó ...

 

Chim con về với Phật

Lam Khê

Chú Tiểu Minh nhặt được chú chim con lúc chiều khi đang cúng thí thực. Con chim run rẩy sà xuống như chiếc lá khô rơi rụng trong buổi chiều tà. Nó cùng bầy với lũ chim được phóng sanh hồi sáng này. Nhưng lại quá kiệt sức nên không thể bay xa được. Động lòng, chú mang chim về liêu mình để chăm sóc và cho ăn.

Buổi tối lên ngồi học kinh trên giảng đường, chú tiểu mang chim để trên bàn, nơi có ngọn đèn nê-ong toả sáng. Hơi ấm của ánh đèn làm cho bộ lông chim khô ráo, và ánh mắt của nó trở nên linh hoạt hơn đôi chút.

Chú tiểu nhìn vào quyển kinh ngâm nga đọc, nhưng mắt cứ cụp xuống, gật gù. Bỗng chú giật mình khi nghe có tiếng chim hót. Mà không. Hình như là chim đang nói. Một giọng nói thật nhỏ nhẹ mà rõ ràng:_

_Chú tiểu ơi! Tôi là loài chim sẻ ra đời chưa bao lâu mà đã bị bắt lui bắt tới đã bao lần rồi. Sáng nay khi được thả, tôi yếu quá nên không thể bay ra khỏi cổng chùa. Nhưng ở đây tôi có thể an tâm vì không sợ bị bắt lại nữa.

Thấy chú tiểu có vẻ ngạc nhiên, chim lại nói tiếp:

_ Chú tiểu ở chùa nên không hiểu hết mọi chuyện ở bên ngoài cuộc đời đâu. Tôi và các anh chị mình cùng được sanh ra bên bìa rừng, cạnh một làng quê yên ả. Khi chúng tôi vừa chập chững biết bay liền rơi ngay vào một mẻ lưới của mấy tay chuyên bẫy chim đem bán. Tôi may mắn trôi dạt về tận chợ chim trên thành phố. Sau nhiều ngày bị nhốt chật chội, một hôm có người đến mua chúng tôi đem về chùa nhờ mấy thầy tụng kinh chú nguyện. Sau đó thì được sổ lồng cho bay đi. Khi được tự do tung cánh trên bầu trời, tôi định bay về nơi cánh rừng xưa, để mong sống lại với những cảm giác thân thương của thuở mới lọt lòng. Nhưng trời đất bao la, giữa chốn thị thành muôn lối, tôi không còn tìm thấy đâu lối về quê cũ xa tít mù sương khói, nên đành ở lại làm một kẻ tha hương.Vậy mà…hỡi ơi! Dòng đời là một trò cạm bẫy khôn lường. Một sinh vật nhỏ bé lạc bước như tôi lại dễ dàng sa chân vào những chiếc lưới giăng ra cách sân chùa không bao xa. Tôi bị săn bắt đem bán, rồi được mang đến sân chùa nhiều lần làm vật phóng sanh cầu thọ cho người. Nhờ được nghe quý thầy tụng kinh thuyết giảng mà dần dần tôi thoáng hiểu ra rằng: Đạo Phật là đạo từ bi cứu khổ. Phật vì muốn trừ tai ách cho chúng sanh nên dạy họ tu phước. Người có tín tâm thì hết lòng làm lành, cứu giúp sinh linh. Và cũng có những người chuyên lợi dung niềm tin của kẻ khác để mưu cầu lợi lộc cho mình. Vậy thì tôi xin hỏi chú tiểu câu này: Như tôi đây bỗng trở thành chiếc cầu nối cho người tu phước và tạo tội, vậy rốt cuộc tôi là kẻ có tội hay có phước?

Bị hỏi bất ngờ, tiểu Minh hơi lúng túng, giây lâu chú mới trả lời:

-À… điều này theo như tôi được biết thì… à...vào thời Phật chưa có tục phóng sanh, nên Phật chỉ nói đến việc giữ giới chớ nên giết hại sanh mạng dù là những loài vật nhỏ nhít. Làm việc phước lành không gì hơn là cứu độ muôn sinh. Và thế là lệ phóng sinh bỗng trở nên một nhu cầu cấp thiết cho người tu cầu phước thọ sau này. Làm phước thì được phước, tạo tội thì chịu tội. Chuyện nhân quả trong kinh Phật đều có nói rõ. Còn như chim nói mình có phước hay tội. Theo tôi nghĩ: khi thọ thân súc sanh là đã mang lấy tội nghiệp từ nhiều đời rồi. Nhưng nay chim được đến chùa, được nghe tụng kinh, lại hiểu rõ tội phước, đó cũng là gieo chút duyên lành giải thoát cho ngày sau. Tôi chỉ có hiểu chừng đó thôi… còn gì nữa thì để tôi đi hỏi sư phụ rồi sẽ trả lời cho chim sau nhé!

 Chim thở dài, thều thào:

-Tôi đâu còn sống để đợi chú đi hỏi sư phụ. Có điều tôi cũng tự nhận biết rằng: Dù đời sống ngắn ngủi. Thân này lại mang nhiều tội nghiệp. Nhưng loài súc sanh như tôi vẫn có quyền và những giá trị riêng của nó. Ít nhiều chúng tôi đã khơi dậy chút từ tâm nơi lòng người và giúp họ có được một niềm tin sâu sắc vào những điều làm phước tu thiện. Còn với ai vì cuộc sống nên phải lợi dụng niềm tin của người cùng sự vụng dại của những con vật nhỏ bé này, thì tôi cũng có góp phần giúp họ trong việc tồn tại mưu sinh. Một bên vì đời sống tâm linh. Một bên vì nhu cầu hiện tại. Ai cũng tìm thấy mục đích thiết thực của mình. Như vậy tôi cũng làm được điều lợi ích cho đời, cho người. Tội phước dẫu vô hình. Nhưng tôi vẫn tin là phước này sẽ diệt được tội chướng kia. Thế nên hôm nay tôi mới được trở về nơi đây, được chết trong niềm tin chánh đạo.

Chú tiểu chợt tỉnh dậy khi nghe có tiếng động vang lên từ bên ngoài. Trời đêm tĩnh lặng. Ngọn đèn điện vẫn toả sáng một góc phòng. Và trên bàn học, chú chim sẻ đã chết tự baogiờï. Trong giấc chiêm bao chập chờn, câu chuyện về tội phước chưa cạn lời, nhưng chim ắt sẽ hài lòng ra đi trong sự nhẹ nhàng thanh thản. Chú chim con đã về với Phật. Tiểu Minh khẽ nói và thầm chú nguyện cho nó.

Những lời nói của chú chim con, dù chỉ thoáng qua trong giấc mộng, cũng giúp cho tiểu Minh hiểu sâu hơn về sự sống của muôn vật. Một sinh vật dù bé bỏng cũng mong muốn được sống chan hoà, cùng góp sức vươn lên một cách hoàn thiện. Khi lòng người luôn biết hướng đến những điều tốt đẹp vì hạnh phúc của muôn loài, thì thế giới này sẽ không còn cảnh nồi da nấu thịt, ỷ mạnh hiếp yếu, cậy lớn hiếp bé. Từ đó mà nhân sinh cùng vạn vật được chung sống trong niềm an lạc vô biên, đầy tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau.

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tình Mẹ... điều kỳ diệu


Linh Uyên

---o0o---

 

Buổi sáng trời còn lạnh hơi sương, tôi xuống phòng châm cứu như thường lệ. Tất cả đều im ắng, không gian thật trong lành. Tôi bước nhẹ lên thềm, mắt ánh lên niềm vui khi thấy cánh hoa vàng đang hé nở, vươn lên trong gió sớm đón ánh bình minh rạng rỡ của một ngày mới. Tuệ Tĩnh đường Linh Chiếu đã có những kỷ niệm gắn bó thân thiết với tôi từ lúc nào tôi cũng không hay. Mỗi sáng đến đây để được nghe, được xoa dịu bao nỗi đau, nỗi khổ, nỗi nghèo của bệnh nhân đã trở thành niềm vui, thành một phần hồn của tôi. Tôi nhớ mãi người thiếu phụ trẻ có sức vóc và gương mặt dễ nhìn với câu chuyện của cô cách đây hai tháng... 

Cô ấy đã có chồng và ba đứa con nhỏ, đứa nhỏ nhất chỉ mới năm tháng. Chồng cô vừa bị tai nạn chết trong một chuyến đi rừng đốn củi, bỏ lại người vợ nghèo với ba đứa con côi. Cô nuốt vội niềm đau mất chồng để lao vào công việc, làm thuê cuốc mướn kiếm tiền nuôi con. Một hôm đang làm cỏ trong một khu vườn lạ, cô không biết cái giếng sâu mười thước không có nước đã bị cỏ phủ kín lên trên nên vô tình bước qua và rơi tõm xuống đáy rồi ngất đi. Độ vài giờ sau tỉnh dậy, cô mở mắt thấy mờ mờ, nhớ lại mình đã rớt xuống giếng, cô nhìn lên chẳng thấy gì ngoài một khoảng tối đen, biết chẳng có ai bên trên nhưng cô vẫn cố kêu cứu trong vô vọng. Phần tối, phần sợ, phần quá đau đớn, cô chẳng còn biết làm sao nên đành nằm im lìm thin thít. Chợt cánh tay cô chạm lên một vật gì lành lạnh, mềm mềm, cô giật mình thụt tay lại và cố giương đôi mắt đờ đẫn nhìn xem vật gì ? Cô kinh hãi và bất tỉnh lần thứ hai. Nhưng trong cái chập chờn hôn mê, cô nghe văng vẳng tiếng kêu bên tai : - "Má ơi ! Má ơi !". Cô bừng tỉnh dậy. Tiếng kêu càng gần hơn, dồn dập hơn : - Má ơi, má đâu rồi, má ơi... Cô lẩm bẩm : - Thôi đúng rồi, tiếng bé Hai. Rồi tiếp theo là tiếng khóc thét. Cô đau đớn rên lên : - Trời ơi ! Con tôi, bé Hai đang ẵm em nó. 

Cô há hốc miệng thật to nhưng âm thanh vẫn tắt nghẽn trong cổ họng. Tiếng bé Hai cứ tiếng dần về phía miệng giếng. Cô nhớ tới đám cỏ xanh phủ kín trên miệng giếng là nguyên nhân đã đưa cô xuống vực sâu... Cô như gào thét : - Bé Hai, dừng lại. Đừng bước tới con ơi ! 

Tiếng gọi mẹ lại càng gần hơn, tiếng khóc thét càng xé ruột xé gan hơn. Đôi mắt cô sáng rực, đôi môi bậm chặt : - "Không được, không thể được ! Bằng mọi cách mình phải trèo lên, không thôi bé Hai sẽ bước tới miệng giếng". Lòng thương con đẵ làm tan biến nỗi sợ hãi, tan biến cơn đau buốt. Cô dùng cùi chõ tựa vào thành giếng, sợ động đậy mạnh, con rắn sẽ vùng lên mổ vào mình, cô nhẹ nhấc cái chân dường như đã bị gãy, rồi thu hết sức tàn bấu mấy ngón chân vào những chiếc lỗ bên thành giếng, đôi mắt vẫn dán chặt theo con rắn, đôi tay tìm kiếm một vật gì để bám víu trèo lên và miệng thì luôn thều thào : - Má đây, má đây nè bé Hai ơi ! 

Con rắn vẫn nằm im như là một ân huệ cuối cùng. Cô có sức ghì chặt thành giếng. Và trong lúc quẫn nhất, trong lúc sự sống và cái chết gần kề nhất của mẹ con cô, cô nắm được một sợi dây leo từ trên miệng thòng xuống lòng giếng. - Má ơi... - Bé Hai. Đừng bước tới con ơi ! - Má ơi, má đâu rồi, má ơi... - Bé Hai ! Trời ơi ! Nam mô Đại từ Đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế  Âm Bồ Tát, xin Ngài hãy cứu con của con... 

Cô đu lên nhanh hơn, hơi thở dồn dập hơn. Và thật phi thường, với mãnh lực phát ra từ lòng thương con vô bờ, cô đã không còn biết gì đến nỗi đau đớn của thân thể mình nữa, cô chỉ còn nghe tiếng kêu văng vẳng bên tai : - "Má ơi !..." mà hùng dũng phăng lên, phăng lên. Đôi tay tươm máu vừa bấu lên được miệng giếng, cô thu hết nghị lực sau cùng, cố trườn lên được nửa người thì đôi chân đã tê dại, không thể kéo lê nổi, hơi thở của cô chùn lại thật ngắn thật rút. Vừa lúc đó, bé Hai chợt thấy má nó. Sau tiếng hét thất kinh của con : - Má... ! Cô đã không còn nghe thấy gì nữa.  

Chúng tôi vẫn ngồi túc trực theo dõi từng hơi thở của người thiếu phụ. Cô bị chấn thương cột sống nặng, chân trái có thể bị gãy. Các vết thương đã được băng bó. Tất cả đều im lặng chờ đợi. Bé Hai đăm đăm nhìn vào mặt mẹ nó. Một tay ẵm em, một tay vẫn còn nắm chặt gói xôi đã bị bẹp dí trong bùn đất khi nó cố kéo mẹ nó lên khỏi miệng giếng. Đôi mắt vẫn còn ướt sũng giọt lệ của một thiên thần vừa lên năm. Bất giác, dòng nước mắt của nó chảy lên khuôn mặt trắng bệch của mẹ nó. Và kỳ diệu thay, sau một hơi thở dài, cô đã từ từ mở mắt. Tôi ôm chặt bé Hai vào lòng và cả hai cô cháu khóc ngon lành. Đôi dòng lệ tuôn chảy tràn ngập niềm vui trên thân thể người mẹ vừa mới hồi sinh. 

Tôi chắp tay ngang ngực, nhắm mắt lại tưởng niệm đến đức Quán Thế Âm. Hình ảnh người mẹ và đứa con, hai mảnh hồn chung một mối tình, thiêng liêng, hùng dũng và dịu ngọt vô cùng... đã cho tôi một niềm tin và tình thương trong cuộc sống này. Và từ đó, tôi mới hiểu vì sao các vị Bồ Tát dù đau đớn đến đâu các Ngài vẫn thiết tha yêu thương trần gian điên dại này. Bởi vì các Ngài mang trái tim của một người mẹ.  

 

Bà già cúng đèn

Một thời Ðức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Ðà Quật, lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh Ðúc Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung. Sau khi thọ trai, Ðức Phật trở về tịnh xá Kỳ Hoàn. Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?

Kỳ Bà nói: Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật.

Vua liền sai chở một trăm thùng dầu về tịnh xá Kỳ Hoàn.

Có một bà già rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Ðức Phật mà không có tiền. Bà già thấy vua A Xà Thế làm công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích. Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu. Chủ hàng hỏi: Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu? Bà già đáp rằng: Tôi nghe ở đời gặp Ðức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh vào đời Phật mà chưa có dịp cúng đường. Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau.

Lúc bấy giờ người chủ quán cả phục chí nguyện của bà, liền đong cho  thêm ba tiền thành được năm tiền dầu. Bà đến trước Ðức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không được tới quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng :”Nếu sau này tôi được chứng đạo Vô Thượng như Ðức Phật thời ngọn đèn này sẽ  đỏ suốt đêm và sáng tỏ khác thường”.

Phát nguyện xong bà lể Phật rồi ra về.

Các ngọn đèn của Vua cúng dường có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được chu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt,dầu lại không hao.

Trời sáng, Ðức Phật bảo ngài Mục Kiền Liên rằng: “ Trời đã sáng, hãy vào tắt các ngọn đèn”. Ngài Mục Kiền Liên vâng lời tắt các ngọn đèn, nhưng riêng có ngọn đèn của bà lão thổi tắt ba lần cũng không được, sau lấy áo cà sa mà quạt, ngọn đèn lại đỏ rưc rỡ hơn. Ðức Phật bèn bảo rằng:” Hãy dừng lại, ngọn đèn ấy là hào quang công đức của một vị Phật tương lai, không thể lấy thần thông của người mà trừ diệt được”.

Vua A Xà Thế nghe nói, liền hỏi Kỳ Bà rằng:” Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà Ðức Phật không thọ ký cho ta thành Phật, còn bà lão kia chỉ thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?”.

Kỳ Bà đáp rằng: ngài cúng đèn tuy nhiều mà tâm không chuyên nhất, không bằng được tâm thuần thành của bà kia đối với Ðức Phật.                                                                                                                                     

 

Truyện ngụ ngôn "Bốn con rắn"

Một ông Vua kia có nuôi bốn con rắn độc. Con thứ nhất tên "Rắn mỏ cây" (Kattha mukha) vì có cái mỏ cứng như cây, mổ đau lại có nọc độc. Rắn thứ nhì tên "Rắn mỏ thúi" (Puti Mukha) vì mỗi lần cắn ai thì thân thể người ấy sình thúi và tan rã ra nước. Thứ ba là "Rắn mỏ lửa"vì ai bị rắn này cắn thì nghe trong mình nóng như bị lửa thiếu đốt đến chết. Thứ tư là "Rắn mỏ khí giới" (Sattha Mukha) vì có răng thật bén, mỗi lần cắn ai thì cũng như dùng khí giới gây tử thương người đó. Vua giao phó việc chăm nom bốn con rắn ấy cho một ông quan cận thần. Khi nào có ai phạm trọng tội thì bị cho rắn cắn. Lúc có chiến tranh thì Vua thả rắn ra diệt trừ quân địch.

Hôm nọ có một tên trộm đáng bị tử tội. Vua truyền đem tội nhân cho rắn cắn. Ông quan dẫn tên tử tội đến chuồng rắn và mở nắp ra. Một trong bốn con rắn bò ra, quấn tay mặt tội nhân và gác đầu bên vai trái. Con thứ nhì quấn mình quanh tay trái và gác đầu lên vai mặt. Con thứ ba quấn ngang bụng. Con thứ tư quấn cổ và gác mỏ lên đầu tên trộm. Bị rắn quấn đầy mình mà anh không tỏ vẻ lo sợ chút nào. Vừa lúc ấy có một vị hiền nhân giàu lòng bác ái đi ngang qua thấy vậy hỏi:

- Anh không sợ chết hay sao?

Anh vừa chỉ rắn vừa đáp:

- Ðây là các vật trang sức của tôi. Tay tôi đeo neo, bụng thắt dây lưng, cổ có kiềng và dây chuyền, đầu lại đội mão.

- Không phải đâu, đó chỉ là bốn con rắn độc.

- Tôi có thấy đâu là rắn độc. Nó có vẻ hiền lành lắm và đeo trên mình tôi thế này là đẹp lắm đấy chớ!

- Bạn nên suy nghĩ lại kỹ càng và hãy bắt đầu lo từ bây giờ. Không nên lãng quên. Một ngày kia một con rắn sẽ bảo bạn đứng dậy nếu không thì nó không chịu. Nếu bạn làm theo thì ba con rắn kia bất bình. Rồi con thứ nhì sẽ bảo bạn đi tới. Rồi con thứ ba bảo bạn nằm, con thứ tư bảo bạn ngồi. Bạn không thể nào thoát khỏi ách nô lệ của chúng nó và bạn luôn luôn bị tai họa.

- Vậy bây giờ tôi phải làm thế nào?

- Bạn hãy lén lén bỏ rắn vào chuồng và mau chạy thoát ra khỏi chốn này.

Tên tội nhân làm y theo lời dạy.

Khi ông quan hay được thì vào triều tâu lại tự sự cho Vua. Vua truyền thả rắn ra rượt theo. Bốn con rắn cố sức chạy theo tên tội. Cùng một lúc ấy vua truyền năm tên binh sĩ theo phụ sức với rắn bắt cho được tên trộm, nếu thành công sẽ được trọng thưởng.

Vua cũng truyền gọi một người bạn chí thân của tội nhân đến dạy phải rượt bắt. Nếu bắt được tội nhân, vua sẽ phong cho làm đại tướng.

Nói về tên trộm, khi thoát ra khỏi chỗ nguy hiểm thì có ý dễ duôi hưởn đãi. Vị hiền nhân xuất hiện và nhắc nhở anh rằng tuy đại nạn vừa thoát khỏi nhưng anh chưa được châu toàn đâu. Hãy cố gắng, cố gắng tìm phương thoát nạn.

Anh vâng lời ráng sức chạy. Ðược một đỗi thì đến một làng nọ. Bụng đói, sức đuối, anh chạy riết vào làng tìm thức ăn và chỗ nghỉ nhưng đó chỉ là một làng bỏ hoang. Trong làng có sáu cái nhà mà nhà nào cũng vắng tanh. Chén dĩa nồi niêu đều trống không. Anh đâm ra chán nản, tìm một gốc cây dựa lưng vào nghỉ.

Vị hiền nhân lại xuất hiện và khuyên anh chớ nên trì hưỡn vì có thêm sáu tướng cướp đang chạy vào làng cùng bắt anh. Anh hoảng sợ bỏ chạy nữa. Một lúc sau anh đến trước một con sông rộng lớn. Từ bờ bên này qua bờ bên kia xa xa có một cù lao, có tất cả ba cù lao. Trong lòng sông, bốn giòng nước lũ gặp nhau xoay tròn thành một cái xoay rộng lớn. Bên kia bờ cỏ cây có vẻ yên tĩnh, nhàn lạc và an toàn. Còn bờ bên này thì chông gai đầy dẫy, phía sau lại có bốn con rắn, năm tên lính, người bạn thân trở mặt và sáu tên cướp đang rượt theo.

Nhưng làm sao qua sông? Không có cầu. Thuyền cũng không. Anh liền tìm cây và dây trong rừng kết lại làm một chiếc bè và hết sức cố gắng dùng cả tay lẫn chân bơi cho bè mau tách xa bờ. Khi đến cù lao thứ nhất anh ngoảnh nhìn lại phía sau thì thấy rắn, lính, người bạn và tướng cướp tất cả đều đến ven sông. Nhìn ra phía trước thấy còn hai cù lao và bờ bên kia. Anh lại nỗ lực bơi riết qua cù lao thứ nhì, thứ ba và rốt cùng đặt chân lên bờ bên kia, trên giải đất an lành tươi đẹp. Anh nghe trong người khoan khoái nhẹ nhàng, sẵn sàng bỏ lại sau lưng chiếc bè và bao nhiêu gian lao nguy khổn.

Bốn con rắn, năm tên lính, người bạn thân và sáu tên cướp biết rằng không thể nào bắt được tên tội nên buồn rầu. kẻ trước người sau, tất cả đều chết.

* * *

Trong chuyện ngụ ngôn kể trên, ông vua tượng trưng cho Nghiệp. Tên trộm là chúng sanh. Bốn con rắn tượng trưng bốn yếu tố (tứ đại) cấu thành phần vật chất của con người. Năm tên lính là ngũ uẩn. Người bạn thân trở mặt làm thù là cái gọi là "bản ngã" của con người. Sáu cái nhà bỏ không là lục căn. Sáu tên cướp lùng bắt tên trộm là lục trần. Rắn, lính, bạn, tướng cướp, tất cả mười sáu điều đó là những pháp làm cho chúng sanh phải đắm đuối trong vòng luân hồi. Sự tham dục, sự luyến ái theo đời sống, tà kiến và vô minh là bốn giòng nước lũ. Chiếc bè là Bát Chánh Ðạo, và ba cù lao là ba đạo quả thánh Tu Ðà Hườn, Tư Ðà Hàm và A Na Hàm. Khi đắc đạo quả thứ tư - A la Hán - là bước chân lên bờ bên kia, bờ giải thoát của Niết Bàn vậy.