Câu chuyện giết gà

Quảng Phúc

 

Mùng một Tết, ngồi đọc giai phẩm Việt Báo Xuân Bính Thân. Báo do người bạn từ Cali ân cần gửi tặng. Lật giở nhanh giai phẩm, bắt gặp bài “30 Tết, cắt cổ gà, vào Thiền” của nhà văn Doăn Quốc Sỹ, tôi đọc một hơi từ đầu đến cuối. Trong bài này có một đoạn văn tôi rất thích nên ghi lại nơi đây để bạn hữu cùng thưởng thức. Câu chuyện như sau:

 

“…Chiều ba mươi Tết, tôi xuống bếp giúp vợ tôi cắt tiết gà. Nàng cắt tiết, tôi chỉ phải giữ chân và cánh cho chắc, nhất là vào lúc gà rẫy chết. Ăn thịt gà th́ cả nhà ai cũng thích ăn, nhưng cắt tiết th́ ai cũng ngại.

Cách đây không lâu vào ngày giỗ nhạc mẫu, chúng tôi làm thịt hai con vịt. Đó là hai con vịt bầu nuôi từ lúc chúng c̣n nhỏ. Một ông bạn già đă cho thằng con trai đầu ḷng của tôi. Thằng bé chăm nom hai con vịt suốt mùa mưa. Hễ mưa lớn nước chưa kịp thoát, dềnh lên, là nó mang đôi vịt ra thả cho bơi lội để chúng khỏi nhớ nước, nó bảo vậy. Nó thích mua tôm, tép mang về thả vào chậu nước và sung sướng ngắm hai con vịt rúc mỏ t́m ăn. Hai con vịt chóng lớn trông thấy. Hết mùa mưa, mỗi ngày thằng bé múc một chậu nước đầy tắm cho vịt như tắm cho bạn. Một lần quên cho chúng ăn, hai con vịt không hiểu làm sao xổng được chuồng, xục vào tận trong bếp xin ăn. Ngày giỗ nhạc mẫu, tôi trói chân hai con vịt mang vào bếp. Thằng con trai tôi chợt vào, nó nh́n hai con vịt thốt lên một tiếng “tội” rồi bỏ đi. Bên ngoài, trời bỗng đổ mưa, một cơn mưa cuối mùa. Mẹ nó không đang tâm cắt tiết vịt, đành khoác áo mưa đem ra chợ gần đấy nhờ một bà chuyên làm thịt gà vịt cắt tiết làm lông hộ.

Nhưng chiều nay, ba mươi Tết, không thể nhờ ai được. Hai vợ chồng tôi đành phải làm lấy công việc “cực nhọc” này vậy. Sau khi vặt một khoảng lông cổ lấy chỗ cắt tiết, vợ tôi như thường lệ suưt xoa như khấn: “Thôi th́ trống cắt tai, mái cắt cổ, tao hóa kiếp cho mày”. Rồi cắt tiết. Tiết ra ít tuy vẫn chảy đều. Nàng cắt không đúng tia. Khi tiết ngừng chảy, tôi không thấy gà rẫy chết như mọi khi. Vợ tôi nói như để dối ḷng: ”Con gà lần này cứ vậy xỉu đi, không phải rẫy chết nữa”. Thật ra nó đâu đă chết. Mắt nó mở trừng trừng. Tim nhói buốt, tôi khóa chéo hai cánh gà lại để che đôi mắt đó. Tôi như Cain chạy trốn khỏi đôi mắt của Abel. Nhưng khóa cánh gà như kia vô t́nh tôi càng bước sâu thêm vào tội ác. Mà cũng như con người khi thấy ḿnh đă trót trôi theo triền dốc tàn ác th́ càng muốn lao lẹ cho chóng tới đáy vực, v́ nghĩ xuống đáy vực tàn ác th́ khỏi phải tàn ác hơn nữa. Tôi bèn ra bếp lấy ấm nước sôi. Tôi muốn sớm được giải thoát cho gà và cho chính ḿnh.

Nó rẫy lên mấy cái. Tội nghiệp nó nhận đủ các cực h́nh: cắt tiết, khóa cánh và nước sôi bỏng. Tâm trí tôi lúc đó là cả một địa ngục thực sự, cụ thể. Tôi nhớ đến câu Kiều: “Cội nguồn cũng bởi ḷng người mà ra!…”

 

Tôi không rơ bác Doăn Quốc Sỹ học thiền với ai và học từ bao giờ, nhưng tôi biết chắc chắn một điều là Thiền đă thấm vào xương, vào tủy bác từ lâu. Một lần chúng tôi ghé thăm bác, khi bác vừa được thả về sau nhiều năm bị giam cầm đầy đọa bởi người cộng sản. Tôi hỏi nhỏ bác: “Trong tù họ có đầy dọa bác nhiều không?” Bác không trả lời trực tiếp câu hỏi mà môi nở một nụ cười, nhẹ nhàng nói: “Ở trong tù, ngày nào bác cũng ngồi Thiền nên mọi việc đều qua.”

Câu nói ấy vẫn c̣n đeo đuổi tôi đến ngày hôm nay, như một kim chỉ nam cho cuộc sống.

Sau tháng 4 năm 1975, bác Doăn Quốc Sỹ, cùng chung số phận như bao văn nghệ sỹ của miền Nam tự do, đă bị người cộng sản bắt cầm tù. Tổng cộng 12 năm tù đầy từ trại tù giá lạnh Gia Trung, Pleiku, tới những năm tháng bị biệt giam tại khám Chí Ḥa và nhà tù Phan Đăng Lưu, bác Doăn Quốc Sỹ cũng như các văn hữu khác đă bị cộng sản Việt Nam gán lên bao nhiêu tội. Từ “biệt kích văn hóa”, “gián điệp”, “phản quốc” đến “tuyên truyền chống phá cách mạng”. Các nhà văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường, Hồ Hữu Tường v.v… không chịu nổi những đ̣n thù của người cộng sản Việt Nam, đă phải bỏ thân ḿnh, không kịp nh́n mặt vợ con, nhắm mắt ĺa đời, trút hơi thở cuối cùng trong ngục tù cộng sản. Hẳn là, một người như bác Doăn Quốc Sỹ, hai lần bị người cộng sản Việt Nam giữa đêm đến nhà bắt đi cầm tù gần 12 năm, chắc chắn bác đă bị hành hạ từ tinh thần đến thể xác. Vậy mà, khi được hỏi “họ có đầy đọa bác nhiều không?” bác không một lời oán trách. Vẫn nụ cười hiền ḥa và lời nói bao dung…

Sau này khi được gia đ́nh bảo lănh qua định cư ở Houston, Texas, một lần bác Doăn Quốc Sỹ ghé thăm gia đ́nh chúng tôi ở Ḥa Lan. Một buổi tối, bác cháu chúng tôi cùng vài người bạn thân ngồi uống trà. Tôi gợi ư: ”Bác có thể nói cho tụi cháu nghe về Thiền được không?”. Vẫn vóc dáng khoan thai và nụ cựi hiền dịu, bác nói: ”Được chứ”. Rồi bác thao thao nói chuyện về Thiền cho chúng tôi nghe. B́nh thường tôi thấy bác luôn nhẹ nhàng, chậm răi. Nhưng tối nay, khi bác nói về Thiền, mắt bác sáng như sao, giọng nói vang vang, đầy sinh khí. Ngồi nghe bác nói, tôi như thấy lại h́nh ảnh ngày xưa, khi bác đứng trên bục giảng đường Đại Học Văn Khoa Sài G̣n thao thao thuyết giảng.

Đọc bài “30 Tết, cắt cổ gà, vào Thiền”, tôi bỗng miên man nghĩ đến những hiện tượng đang xẩy ra chung quanh ḿnh. Từ khi kỹ thật truyền thông tiến bộ vượt bực, người ta dễ dàng viết những điều ḿnh muốn và tung lên “internet” để mọi người cùng đọc. Qua truyền thông, chúng ta học được nhiều điều hay, nhưng cũng nhận được nhiều bài viết vô bổ. Có những bài viết sử dụng từ ngữ đao to búa lớn, những phân tích hời hợt với mục đích nhục mạ ngựi ḿnh không thích. Có bài hiện rơ phong cách của một người đầy sân si, thù hận. Thậm chí, có người không dám viết tên thật và xử dụng kỹ thuật truyền thông này như một vũ khí, một đấu trường để nói xấu người khác. Khi đă không thành thật với chính ḿnh, th́ bài viết làm sao trung thực được! Khi viết những bài ấy, chắc người ta thỏa măn với việc ḿnh làm, nhất là khi cũng được một số “thân hữu” vỗ tay tán thưởng. Nhưng người ta đâu biết rằng, cả trăm người khác, của đám đông thầm lặng, sau khi đọc các bài viết này, đă lắc đầu ngao ngán và xóa bỏ ngay.   

Đọc chuyện bác Doăn Quốc Sỹ kể việc giết gà mà tưởng như đang trôi theo triền dốc của tàn ác, làm tôi liên tưởng đến những người đang tung lên “internet” những bài viết thiếu ái ngữ và đầy sân si. Họ đang tạo nghiệp nặng mà cứ tưởng đang làm việc đạo nghĩa. Tôi bỗng không thấy oán giận mà cảm thấy thương xót những người này.

Nghĩ thế, vội gấp tờ báo Xuân, tiến đến trước bàn thờ Phật, thắp nén nhang trầm và thầm đọc câu kinh Nam Mô A Di Đà Phật, cùng nguyện cầu những người viết bừa băi trên mau vượt qua khỏi cơi vô ḿnh, t́m về Chánh Giác.            

trở về trang chính